Giải nghĩa và hát mẫu Thánh vịnh 21 (22) | Chúa Nhật Lễ Lá

I. BỐI CẢNH

Điệp ca chúng ta vừa nghe dẫn chúng ta vào Thánh vịnh (Tv) 21. Vua Đa-vít chính là tác giả của Thánh vịnh này. Tv 21 dẫn chúng ta đến chiêm ngắm hình ảnh ‘Người Tôi Trung’ trong sách ngôn sứ I-sai-a (Is 52,14; 53,2-3) và hình ảnh người công chính bị áp bức của sách Khôn ngoan (x. Kn 2,12-20). Một người tôi tớ vô tội bị lùng bắt và bao vây bởi những kẻ thù muốn ông phải chết.[1] Chính trong cảnh khốn cùng ấy, ông đã kêu cầu cùng Chúa bằng một lời than van đau đớn. Tuy nhiên, lời ai ca không phải là lời cuối cùng của người tôi tớ đau khổ.

Sau những lời than thở lại bừng lên một tia sáng của đức tin và hy vọng. Ánh sáng đức tin ấy, ánh sáng hy vọng ấy đã giúp cho người tôi tớ đau khổ vượt trên mọi nghi ngờ, mọi tăm tối và hoang tàn. Quả thực, bóng tối nay nhường chỗ cho ánh sáng huy hoàng. Đau khổ nay nhường chỗ cho hạnh phúc và vui mừng. Tiếng ai ca trở thành vũ điệu chúc tụng tạ ơn trong hân hoan.

II. BỐ CỤC

Thánh vịnh 21 với 32 câu được chia thành 2 phần rõ rệt:

  • Phần I (2-22): Lời van xin thảm thiết
  • Phần II (23-32): Lời tạ ơn

III. Ý NGHĨA

1. Lời van xin thảm thiết giữa những nỗi đau khổ

Thánh vịnh 21, với bố cục được chia thành hai phần rõ rệt, dẫn chúng ta vào tiến trình biến đổi nội tâm của của người tôi tớ đau khổ: từ than van vì những nỗi thống khổ tột cùng, ngang qua nài van trong tín thác, đến cam kết chúc tụng trong hân hoan.[2] Trước hết, Tv 21 khởi đi với những lời kêu cứu, than van, ai oán của người tôi tớ lâm cảnh khốn cùng. Trong lời cầu nguyện của ông, thực tại kinh hoàng của hiện tại và đầy an ủi trong quá khứ thay phiên nhau trong một ý thức đau đớn về tình trạng tuyệt vọng của mình, nhưng không muốn làm cho mình đánh mất niềm hy vọng.

Lời kêu van lúc đầu của ông là một lời khẩn cầu cùng một Thiên Chúa dường như xa cách, không đáp lời ông và có vẻ đã bỏ rơi ông[3]: “Lạy Chúa con thờ, muôn lạy Chúa, Ngài nỡ lòng ruồng bỏ con sao? Dù con thảm thiết kêu gào, nhưng ơn cứu độ nơi nao xa vời! Ngày kêu Chúa, không lời đáp ứng, đêm van Ngài mà cũng chẳng yên” (Tv 22,2-3). Những lời than thở diễn tả một sự thịnh lặng của Thiên Chúa đến đáng sợ. Sự thinh lặng khiến tâm hôn người tôi tớ tan nát và tuyệt vọng; ngày và đêm đến rồi đi thế mà vẫn không một tiếng đáp trả. Có lẽ người tôi tớ đang thầm nghĩ “Những tai họa này xảy ra cho tôi, phải chăng là vì Thiên Chúa không còn ở giữa tôi? (Đnl 31,17). Ông cảm thấy bị Thiên Chúa ruồng bỏ. Tuy nhiên, ông không để mình tan biến trong tuyệt vọng. Ông vẫn hy vọng ngay cả khi không thấy một tia hy vọng. Ông vẫn kiên trì cầu xin và tìm kiếm lời đáp trả của Thiên Chúa. Với một sự phó thác và tin tưởng phi thường, ông khẳng định rằng Thiên Chúa của ông không bao giờ bỏ rơi ông vì Chúa vẫn là “Thiên Chúa của con”.

2. Lời chúc tụng trong hân hoan

Giờ đây, một tia sáng hy vọng bừng lên trong đêm tối của tâm hồn người tôi tớ đau khổ. Lời than thở giờ đây nhường chỗ cho lời chúc tụng tạ ơn trong hân hoan. Thiên Chúa đã không ẩn mặt luôn mãi. Người đã ra tay giải cứu kẻ khốn cùng. Thế nên, người tôi tớ hứa cùng Chúa rằng: “Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa cho anh em tất cả được hay, và trong đại hội dân Ngài, con xin dâng tiến một bài tán dương” (Tv 21,23). Lời tạ ơn của người tôi tớ trở thành bài ca chúc tụng tạ ơn tuyệt vời cho toàn thể cộng đoàn phụng vụ, cho mọi thế hệ tương lai (Tv 21,24-32). Như vậy, hai phần của Thánh vịnh này cho chúng ta thấy tiến trình nội tâm hóa sự hiện diện của Thiên Chúa. Cái chết và sự sống đã gặp nhau trong một mầu nhiệm không thể phân ly, và sự sống đã chiến thắng.[4]

IV. TRUYỀN THỐNG CẦU NGUYỆN VÀ PHỤNG VỤ

Lời kêu van ban đầu của Thánh vịnh mở đường cho chúng ta thẳng tiến đến đồi Gol-go-tha, tới tận chân Thập giá. Trên cây Thập giá ấy, Đức Giêsu đã cầu nguyện với Thánh vịnh 21 như giờ kinh chết của Người. Trong giờ chết, Đức Giêsu kêu lới tiếng: “Ê-lô-i, Ê-lô-i, la-ma xa-bác-tha-ni!”, nghĩa là: “Lạy Thiên Chúa, Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15,34). Trên Thập giá, Đức Giêsu đã nếm đến tận cùng chén đau khổ của nhân loại tội lỗi, nhưng vẫn một lòng tin tưởng vào Chúa Cha. Đau khổ của Người mang lại hiệu quả ơn cứu chuộc muôn người. Người được Chúa Cha tôn vinh. Quả thật, trên đồi Gol-go-tha, Thiên Chúa, qua Đức Giêsu, Ngôi Lời hóa thân thành nhục thể, đã mặc khải Người là Đấng ôm trọn toàn thể nhân loại nhờ sức mạnh cứu độ của Thập giá và sự Phục sinh. Người vẫn tiếp tục giải phóng con người chúng ta khỏi tội lỗi và cái chết. Ngài vẫn tiếp tục đón nhận con người vào trong vòng tay tình yêu của Người.

Vì thế, Giáo Hội tiếp tục cầu nguyện với Thánh vịnh 21, nhất là trong mùa Thương khó và Phục sinh, để suy niệm cũng như sống mầu nhiệm khổ nạn của Đức Giêsu và những ơn ích do mầu nhiệm vĩ đại này mang lại. Trong truyền thống phụng vụ, phần đầu của Thánh vịnh này được hòa tấu trong Chúa Nhật Lễ Lá, ngày mà tất cả chúng ta cùng với Vua Kitô tiến vào thành thánh Giê-ru-sa-lem chịu khổ nạn. Phần cuối của Thánh vịnh được sử dụng trong Chúa Nhật V Phục Sinh, như một lời thúc giục chúng ta cùng với muôn dân tiến vào dự tiệc chiến thắng khải hoàn của Vua Kitô trong vinh quang Thiên Quốc.

Để có thể ca vang bài ca chiến thắng, chúng ta phải trải qua cuộc khổ nạn với Đức Kitô. Với tâm tình ấy, hôm nay, chúng ta hãy can đảm bước theo Đức Kitô tiến vào Giê-ru-sa-lem để thực sự sống cuộc vượt qua của Người, và để rồi chúng ta có thể chia sẻ hoa trái Phục sinh của Người. Một khi chúng ta cùng chết với người, chúng ta cũng sẽ sống với Người.

Lm. An-tôn Trần Văn Phú

[1] ĐGH Biển Đức XVI, Cầu Nguyện (Nxb. Đồng Nai, 2013), tr. 112.

[2] Soạn giả Bernard Phạm Hữu Quang và Phaolo Nguyễn Văn Bình, Sách Thánh Vịnh: Tìm Hiểu, Giải Thích, Suy Niệm, Cầu Nguyện (Nxb. Đồng Nai, 2018), tr. 207.

[3] ĐGH Biển Đức XVI, Cầu Nguyện (Nxb. Đồng Nai, 2013), tr. 112.

[4] Cầu Nguyện (Nxb. Đồng Nai, 2013), tr. 118.

Lên đầu trang