I. DẪN NHẬP
1. Tác giả và bối cảnh
- Tác giả: Điệp ca chúng ta vừa nghe dẫn chúng ta vào Tv 125. Đây là một trong số những ca khúc lên Đền và là một bài ca cộng đồng.
- Bối cảnh lịch sử: Tv 125 dẫn chúng ta trở lại thời kỳ bi thương nhất của lịch sử vương quốc Giu-đa khoảng những năm 627-587 tCn. Trong giai đoạn này, vương quốc Giu-đa nằm trong sự thôn tính của ba đế quốc hùng mạnh là Át-sua, Ba-by-lon và Ai-cập, đặc biệt là đế quốc Ba-by-lon. Vào cuối tháng chạp năm 589, Na-bu-cô-nô-xô, vua Ba-by-lon cùng toàn thể đạo quân tiến đánh Giê-ru-sa-lem. Thành bị vây hãm, nạn đói hoành hành trong xứ. Cho tới tháng 8 năm 587, Na-bu-cô-nô-xô phá hủy thành, đốt Đền thờ Giê-ru-sa-lem, và bắt số dân còn sót lại của Giu-đa đi lưu đầy. Tuy nhiên, tình thế thay đổi sau khi Ba-by-lon bị đế quốc Ba-tư lật đổ năm 539. Một năm sau đó, năm 538 tCn Ky-rô, vua Ba-tư, ban bố sắc lệnh hồi hương cho các tù nhân. Như thế, dân Chúa được hồi hương, trở về quê cha đất tổ. Thật là kỳ diệu, khi mọi thứ dường như trở nên vô vọng, những lời hứa của Thiên Chúa dường như đã đến hồi kết thúc, thì Chúa lại hành động để phục hồi Ít-ra-en. Trước công trình vĩ đại của Thiên Chúa, dân Xi-on vui mừng cùng nhau hòa tấu Tv 125 như một lời tán tụng ca khen và bày tỏ niềm hy vọng phục hưng.
2. Bố cục
Thánh vịnh gồm 6 câu và có thể được chia thành 2 phần
- Phần I (1-3): Diễn tả niềm vui hồi hương
- Phần II (4-6): Trình bày niềm hy vọng phục hưng
II. Ý NGHĨA
1. Niềm vui hồi hương
Tv 125 khởi đầu với việc quảng diễn niềm vui rộn rã khi được Chúa giải cứu khỏi cảnh lưu đầy và được đưa trở về quê cha đất tổ.
Khi Chúa dẫn tù nhân Xi-on trở về,
ta tưởng mình như giữa giấc mơ.
Vang vang ngoài miệng câu cười nói,
rộn rã trên môi khúc nhạc mừng.
Tác giả bắt đầu Thánh vịnh với việc nhìn lại những kỳ công mà Chúa đã thực hiện qua việc dẫn tù nhân, nhưng người lưu đầy Ba-by-lon trở về. Trước đó, đối với dân Xi-on việc hồi hương chỉ là một giấc mộng. Nhưng nay, giấc mộng ấy đã trở thành hiện thực. Điều này khiến họ ngỡ ngàng. Thật khó có thể diễn tả bằng lời khi chứng kiến đoàn người trở về. Có niềm vui nào sánh cho bằng niềm vui của người được tự do, niềm vui của tù nhân được trở về nhà.
Niềm vui của dân Xi-on sống sót trở về khiến cho các dân ngoại xung quanh cũng phải bàn tán xôn xao. Chính họ đã chứng kiến nhiều dân tộc, đặc biệt là những dân tộc nhỏ bé đều bị tiêu diệt và bị xóa tên bởi những đế quốc hùng mạnh. Thế mà nay, dân Xi-on sống sót trở về. Điều này khiến thiên hạ sửng sốt mà thốt lên rằng: “Việc Chúa làm cho họ, vĩ đại thay!” Còn dân Xi-on, những người trực tiếp cảm nghiệm tình yêu cứu độ của Chúa, thì cảm phục rằng:
Việc Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại!
Ta thấy mình chan chứa một niềm vui.
2. Hy vọng phục hưng
Hồi hương mới chỉ là niềm vui khởi đầu. Việc quan trọng kế tiếp đối với dân Xi-on là công việc tái thiết Giê-ru-sa-lem. Việc này đòi hỏi thời gian, kiên trì và tin tưởng. Khi trở về quê hương, dân Xi-on chứng kiến một Giê-ru-sa-lem không khác gì đống tro tàn. Họ không biết bắt đầu từ đâu và một lần nữa họ lại lâm vào cảnh tuyệt vọng. Thế nên họ lại cầu xin Chúa tiếp hoàn thành công việc mà Chúa đã khởi sự, như Chúa đã giải thoát họ khỏi cảnh tù đầy Ba-by-lon thì nay, giải thoát họ khỏi cảnh tù đầy của sự thất vọng như suối cạn miền Nam được đầy nước khi mưa và như mùa gặt bội thu.
Lạy Chúa, xin dẫn tù nhân chúng con về,
như mưa dẫn nước về suối cạn miền Nam.
Việc ổn định đời sống, việc xây dựng lại thành phố và việc tái thiết Đền thờ sẽ phải đối mặt với nhiều thử thách đau thương và đầy nước mắt, nhưng Chúa hứa việc họ làm sẽ sinh hoa trái và mùa màng bội thu. Điều này nhắc nhớ cho dân Xi-on rằng tình thương của Thiên Chúa dành cho họ không bao giờ cạn. Sau những thử thách đau thương sẽ là niềm vui cứu độ.
Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống,
mùa gặt mai sau khấp khởi mừng.
Họ ra đi, đi mà nức nở, mang hạt giống vãi gieo;
lúc trở về, về reo hớn hở, vai nặng gánh lúa vàng.
III. Truyền Thống Cầu Nguyện
Cầu nguyện với Tv 125, mỗi người Kitô hữu hòa mình trong Giáo hội làm nên một đoàn người trở về trong hy vọng. Trở về để được sống và đổi mới. Như dân Xi-on, cuộc trở về của Giáo hội trở nên dấu chỉ của niềm hy vọng vô điều kiện cho các dân tộc, ngôn ngữ và văn hoá; Giáo hội luôn hy vọng ngay cả khi không còn gì để hy vọng. Quả thực, Đức Kitô Phục Sinh là niềm hy vọng sống động của Giáo hội và của mỗi người chúng ta. Đức Kitô như hạt lúa mì gieo vào lòng đất, mục nát và chết đi để đem lại một mùa gặt bội thu (x. Ga 12,24-25). Nhờ cái chết và phục sinh của Người, toàn thể nhân loại được ơn giải thoát khỏi tội lỗi và sự chết.
Khi cầu nguyện với thánh vịnh này, mỗi người Kitô hữu tìm được niềm an ui trong những đau thương và thử thách của cuộc sống lữ hành trần thế. Chính Đức Giêsu khẳng định với chúng ta: “Thật, Thầy bảo thật anh em: anh em sẽ khóc lóc và than van, còn thế gian sẽ vui mừng. Anh em sẽ lo buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui” (Ga 16,20).
Lm. An-tôn Trần Văn Phú

