I. DẪN NHẬP
Điệp ca chúng ta vừa nghe dẫn chúng ta vào Tv 117 (118). Đây là bài ca tạ ơn được hòa tấu bởi nhà vua, các tư tế và dân chúng sau cuộc chiến thắng khải hoàn. Bài ca này gợi cho chúng ta bối cảnh của một đoàn rước, một đoàn người đang tiến về Đền thờ để tạ ơn Chúa. Đi đầu đoàn rước là nhà vua và con cái nhà Ít-ra-en, rồi đến các tư tế nhà A-ha-ron và sau cùng là toàn thể những người kính sợ Chúa. Khi đoàn rước tiến tới cửa Đền thờ, một tư tế cất lời mời gọi từng nhóm một trong đám rước dâng lời tạ ơn Chúa.
II. BỐ CỤC
Thánh vịnh 117 (118) gồm 29 câu có thể được chia thành 6 phần
– Phần I (c.1-4): Lời mời gọi cảm tạ lòng nhân từ của Chúa
– Phần II (5-18): Thuật lại việc Chúa giải thoát
– Phần III (c. 19-22): Cuộc đối thoại trước cửa Đền giữa tư tế và đoàn rước
– Phần IV (c. 22-25): Ý nghĩa của việc giải thoát
– Phần V (c. 26-28): Lời chúc phúc của tư tế dành cho đoàn rước đang tiến vào Đền thờ
– Phần VI: (c. 29): Lời mời gọi tạ ơn Chúa
III. Ý NGHĨA
1. Lời mời gọi cảm tạ lòng nhân từ của Chúa (c. 1-4)
Trước hết, Tv 117 khởi đi với lời mời gọi: “Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (c.1). Điệp khúc “muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” diễn tả lòng tín trung của Chúa đối với giao ước Người đã lập với nhà Ít-ra-en. Ngay cả nhiều lần Ít-ra-en bất trung với Chúa, nhưng Người luôn tín trung vì “muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”.
2. Thuật lại việc Chúa giải thoát (c. 5-18)
Lòng tín trung của Chúa khiến nhà vua chiến thắng. Thế nên, nhà vua, giờ đây, nhớ lại khi ông bước vào cuộc chiến chống lại đối phương. Trong cuộc chiến đấu ấy, Thiên Chúa đã cứu ông khỏi tay kẻ thù. Chẳng có kẻ thù nào có thể chống lại Thiên Chúa. Với sự tin tưởng tuyệt đối vào danh Thiên Chúa, nhà vua đã trừ diệt quân thù.
Chúa là sức mạnh tôi, là Đấng tôi ca ngợi,
chính Người cứu độ tôi.
Kìa nghe tiếng reo mừng chiến thắng trong doanh trại chính nhân:
“Tay hữu Chúa đã ra oai thần lực, tay hữu Chúa giơ cao,
tay hữu Chúa đã ra oai thần lực.”
Những lời này nhắc nhớ chúng ta tới Bài ca của Mô-sê sau khi chiến thắng quân đội của Pha-ra-ô ở Biển đỏ. Cuộc chiến thắng của nhà vua là sự nối tiếp cuộc chiến thắng của Xuất hành. Xưa Chúa đã ban cho Mô-sê và con cái nhà Ít-ra-en chiến thắng, thì giờ đây, một lần nữa, Chúa lại hành động vì “muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương”.
3. Cuộc đối thoại giữa nhà vua và tư tế trong đền thờ (19-21)
Sau chiến thắng, nhà vua tiến vào Đền thờ để tạ ơn Chúa. Khi tiến đến cửa Đền thờ ông thưa: Xin mở cửa công chính cho tôi để tôi vào tạ ơn Đức Chúa (c. 19). Tư tế trong đền thờ đáp loại lời ông: “Đây là cửa dẫn vào nơi Chúa ngự, chỉ những người công chính mới được qua” (c. 20). Khi nghe những lời này, nhà vua tạ ơn Chúa.
4. Ý nghĩa việc giải thoát (c. 21-25)
Nhà vua ví mình như một viên đá bị thợ xây nhà loại bỏ, lại trở nên đá tảng góc tường. Như thế việc nhà vua và dân chúng được giải thoát là công trình của Chúa, công trình vĩ đại, và “Đây là ngày Chúa đã làm làm ra, nào ta hãy vui mừng hoan hỷ.” Cùng với nhà vua, dân chúng cũng tiến vào cửa Đền thờ với lời cầu xin phúc lành:
Lạy Chúa, xin ban ơn cứu độ, lạy Chúa,
xin thương giúp thành công (c. 25).
5. Phúc lành của các tư tế trong Đền thờ (c. 26-28)
Khi vua và dân chúng tiến vào cửa Đền thờ, các tư tế từ trong Đền thờ chúc lành cho họ vơi những lời sau:
Nguyện xin Chúa tuôn đổ phúc lành
cho người tiến vào đây nhân danh Chúa.
Từ nhà Chúa, chúng tôi chúc lành cho anh em (c. 26).
Sau lời chúc lành, các tư tế mời gọi cộng đoàn tiến vào Đền thờ:
Đức Chúa là Thượng Đế, Người giãi sáng trên ta.
Tay cầm lá, hãy sắp thành đám rước đến bên cạnh bàn thờ” (c. 27).
6. Lời mời gọi tạ ơn Chúa (c. 29)
Thánh vịnh khép lại với lời cảm tạ, tôn vinh cùng với lời mời gọi:
Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương (c. 29).
IV. TRUYỀN THỐNG CẦU NGUYỆN
Theo truyền thống Do-thái, Tv 117 thường được sử dụng trong dịp Lễ Vượt Qua. Các tư tế dùng Thánh vịnh 117 để đón tiếp những khách hành hương vào Đền thờ trong dịp Lễ, nhưng sau này đã trở thành lời diễn đạt niềm hy vọng Thiên sai: “Chúng tụng Đấng nhân danh Thiên Chúa mà đến” (Tv 117, 26; Lc 19,38).
Giáo hội tin nhận rằng Đấng nhân danh Chúa mà đến không ngoài ai khác là Đức Giêsu Kitô. Giáo hội trước phần Kinh nguyện Thánh Thể, đã hát lời Thánh vịnh mà người ta chào đón Đức Giêsu khi Người vào Thành Thánh. Giáo hội chào đón Đức Giêsu như vị Vua, Đấng xuất phát từ Thiên Chúa, nhân danh Thiên Chúa mà đến ở giữa chúng ta.
Hôm nay, khi chúng ta cầu nguyện Thánh vịnh này với Đức Kitô, chúng ta cầu nguyện với Người sau chiến thắng phục sinh. Cuộc phục sinh khải hoàn của Đức Kitô kiện toàn lời tiên báo của Thánh vịnh. Tất cả những hình phạt mà Đức Giêsu phải chị là vì tội lỗi chúng ta và vì ơn cứu độ của chúng ta. Cửa trời được rộng mở để đón Đức Kitô Phục Sinh.
Hôm nay, Đức Kitô Phục Sinh, vị Vua và Thượng Tế đích thực, tiến vào cung cực thánh là Đền Thờ Thiên Quốc. Chính Người đã mở cửa Thành Thánh Giêsu-sa-lem Thiên Quốc cho chúng ta và Người đang chờ đón chúng ta. Như tác giả thư Híp-ri khẳng định: “Chúng ta có một vị Thượng Tế cao cả như thế ngự bên hữu ngai Đấng uy linh ở trên trời” (Hr 8,1). Vì thế, hôm nay, “chúng ta hãy tiến lại gần Thiên Chúa với một lòng chân thành và một đức tin trọn vẹn” (Hr 10,22). Chúng ta hãy cầu xin Đức Kitô Phục Sinh ban phúc lành và bình an từ trời cao cho chúng ta. Và trong niềm vui tạ ơn, chúng ta hãy công bố cho muôn dân rằng: “Đây là ngày Chúa đã làm ra, nào ta hãy hỷ hoan vui mừng”.
Lm. An-tôn Trần Văn Phú

