Giải nghĩa và hát mẫu Thánh vịnh 115 (116) | Thứ Năm Tuần Thánh

I. BỐI CẢNH

Điệp ca chúng ta vừa nghe dẫn chúng ta vào Thánh vịnh (Tv) 115 (116). Đây là một trong những Thánh vịnh Hallêluia (x. Tv 113-118). Thánh vịnh này cho chúng ta thấy người tín hữu đang ở trong tình trạng bệnh tật rất nghiêm trọng và rất đỗi đau khổ. Trong cảnh cận kề cái chết, ông kêu cầu lên Chúa và được Chúa thương nhận lời. Chúa đã phục hồi ông trong cõi đất dành cho kẻ sống (x. Tv 115,9).

Giờ đây, ông tiến vào Đền thờ dâng hy tế tạ ơn. Hy tế tạ ơn là một hình thức của hy tế hiệp thông. Khi cử hành hy tế hiệp thông, người dâng hy tế ăn một phần của hy tế như dấu chỉ của sự hiệp thông với Thiên Chúa. Phần còn lại của hy tế được đốt trên bàn thờ (x Lv 7,11-15). Trong việc cử hành hy tế hiệp thông, người tín hữu tạ ơn Chúa vì Người đã lắng nghe tiếng ông khẩn nài. Đồng thời, người tín hữu làm chứng cho lòng thương xót Chúa trước toàn thể cộng đoàn.

II. BỐ CỤC

Thánh vịnh 115 (116)  gồm 19 câu, được chia thành ba phần chính:

  • Nhập đề: Diễn tả lòng mến Chúa vì Người thương ghe lời (c. 1-2).
  • Phần I: Nhớ lại những nguy hiểm đã trải qua và lời kêu cầu Chúa (3-6)
  • Phần II: Niềm tin vào Chúa và sự bình an nơi tâm hồn (7-11)
  • Phần III: Lời hứa dâng lễ tạ ơn giữa cộng đoàn (12-19)

III. Ý NGHĨA

Thánh vịnh khởi đi với việc diễn tả lòng mến của Vịnh gia đối với Chúa, Đấng đã thương nghe lời ông kêu xin. Ngay cả ở giữa những đau khổ, khi đức tin bị thử thách ông vẫn một lòng tin tưởng vào Chúa: “Tôi đã tin cả khi mình đã nói: Ôi nhục nhã ê chề!” (c.10). Tiếng kêu ai oán, nỗi đau khôn tả này được Vịnh gia đón nhận vào trong mình và chuyển hóa chúng thành bài ca tạ ơn, tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ chính trực và một dạ xót thương.

Biết lấy chi đền đáp Chúa bây giờ, vì mọi ơn lành Người đã ban cho?
Tôi xin nâng chén mừng ơn cứu độ và kêu cầu thánh danh Đức Chúa.
Lời khấn nguyền với Chúa, tôi xin giữ trọn, trước toàn thể dân Người.

Vịnh gia đến Đền thờ để dâng lễ tạ ơn bằng việc nâng chén rượu lên trước mặt Chúa. Ở đây, Vịnh gia kiện toàn điều ngài đã khấn hứa. Hy tế được tiến dâng không chỉ tỏ lòng biết ơn mà còn là chứng từ trước cộng đoàn (cc. 12-19). Chúa đã cứu Vịnh gia khỏi cái chết: “Đối với Chúa thật là đắt giá cái chết của những ai trung hiếu với Người” (c. 15).

Vịnh gia còn dâng hy tế tạ ơn với chính sự tự do của mình. Ông hoàn toàn tuân phục Chúa:

Vâng lạy Chúa, thân này là tôi tớ,
tôi tớ Ngài, con của nữ tỳ Ngài,
xiềng xích trói buộc con, Ngài đã tháo cởi.
Con sẽ dâng lễ tế tạ ơn,
và kêu cầu thánh danh Đức Chúa” (cc. 16-17).

Vịnh gia hoàn toàn tin tưởng và qui phục Chúa, Đấng tháo cởi ông khỏi mọi xiềng xích và giải thoát ông khỏi mọi cạm bẫy của sự chết.

Thánh vịnh khép lại với lời ngời khen chúc tụng Thiên Chúa:

Lời khấn nguyền với Chúa, tôi xin giữ trọn, trước toàn thể dân Người,
tại khuôn viên đền Chúa, giữa lòng ngươi, hỡi Giê-ru-sa-lem! Ha-lê-lui-a (cc. 18-19).

IV. TRUYỀN THỐNG CẦU NGUYỆN

Trong truyền thống Do-thái, Thánh vịnh 115, lời kinh tạ ơn, được hát trong ngày lễ Vượt Qua, với mục đích nhắc lại biến cố Thiên Chúa giải phóng dân Ít-ra-en ra khỏi Ai Cập. Nghi lễ Vượt Qua được diễn tả qua việc các thừa tác viên tư tế nâng chén rượu lên trước mặt Chúa và người ta sẽ đổ rượu nồng dâng Ðức Chúa trong nơi thánh (Ds 28,7).

Trong truyền thống của Giáo hội, Thánh vịnh gắn liền với Bí tích Thánh Thể, Hy tế Tạ ơn. Chén cứu độ mà Vịnh gia dâng lên Chúa để tạ ơn Người là chén mà Đức Giêsu dâng lên Chúa Cha trong ngày lễ Vượt Qua: “Rồi Người cầm lấy chén, dâng lời tạ ơn, trao cho môn đệ và nói: Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội.” (Mt 26,27-28).

Trong Phụng vụ, Giáo hội chia Thánh vịnh này thành hai phần.

– Phần đầu của Thánh vịnh 115 được hát trong Chúa Nhật Hai Mùa Chay Năm B.
– Phần hai của Thánh vịnh là lời tạ ơn (câu 12-19) được hòa tấu trong ngày lễ Mình Máu Thánh Chúa và Thứ Năm Tuần Thánh hôm nay.

Khi bài ca này được vang lên, toàn thể Giáo hội cũng như mỗi cộng đoàn Kitô hữu cùng hòa mình trong tâm tình tạ ơn. Tạ ơn Chúa vì tình thương cứu chuộc của Người dành cho toàn thể nhân loại. Người đã cứu chuộc chúng ta khỏi ách nô lệ của tội lỗi bằng giá máu của Con Một yêu quý của Người. Đức Giêsu, với một tình yêu dâng hiến, đã ôm trọn nhân loại bằng chính cuộc Vượt Qua của mình.

Trong bữa Tiệc Ly mang màu sắc Vượt Qua, Chúa Giêsu đã nâng chén tạ ơn như “máu giao ước đổ ra để chuộc tội muôn dân” (Mt 26,28). Máu Người có giá trị cứu rỗi: Nhờ Người, chúng ta được công chính hóa (x. Rm 5,9), được cứu chuộc (x. Ep 1,7), được mua cho Thiên Chúa (x. Cv 20,28). Quả thật, qua cuộc tự hiến trên thập giá, sự sống mới được tưới gội trên con người. Nơi thập giá, Chúa Giêsu trở thành suối nguồn sự sống cho mọi người: “Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người, vì Người đã được Thiên Chúa tôn xưng là Thượng Tế theo phẩm trật Men-ki-xê-đê” (Dt 5,9-10). Nếu chúng ta gắn bó với Người trong đức tin, máu của Người “sẽ thanh tẩy lương tâm chúng ta” và sẽ giúp chúng ta, ngay từ lúc đó, “trở thành một lễ phụng tự dâng lên Thiên Chúa hằng sống” (x. Dt 9,14). “Vậy nhờ Người, chúng ta hãy luôn luôn dùng lời ngợi khen làm lễ tế dâng lên Thiên Chúa, tức là dùng miệng lưỡi mà ca tụng Danh Thánh” (Hr 13,15).

Lm. An-tôn Trần Văn Phú

Lên đầu trang