Chúa Nhật XXXII Thường niên – Năm C | Giải nghĩa và hát mẫu Thánh vịnh 16 (17)

I. DẪN NHẬP

Điệp ca chúng ta vừa nghe dẫn chúng ta vào Tv 16 (17). Đây là một trong số những thánh vịnh cầu khẩn. Đây là lời cầu cứu của vua Đa-vít. Lời cầu nguyện này dẫn chúng ta trở lại biến cố lịch sử được ghi lại trong sách Sa-mu-en quyển I: Đa-vít bị vua Sa-un săn đuổi tại sa mạc Ma-ôn (x. 1 Sam 23,25). Trong khi bị vua Sa-un tìm giết hại, Đa-vít đã hướng về Thiên Chúa và cầu xin Chúa cứu ông khỏi tay lũ ác nhân hãm hại. Thế nên, toàn bộ Tv 16 (17) trình bày cho chúng ta thấy sự chuyển dịch theo mức độ tăng dần của tính cấp bách trong lời cầu cứu của Đa-vít.

II. BỐ CỤC

Tv 16 (17) gồm 15 câu và được chia thành ba phần, mỗi phần đều bắt đầu vời lời kêu cứu:

  • Phần I (c. 1-5): Lời khẩn cầu xin Chúa lắng nghe (1-2) và tình trạng vôi tội của người bị hãm hại (c. 3-5).
  • Phần II (c. 6-12): Lời khẩn cầu xin Chúa nhận lời (c. 6-9) và bản cáo tội kẻ thù (c. 10-12).
  • Phần III (c. 13-15): Lời khẩn cầu xin Chúa hành động (c. 13-14) và lời công bố tràn đầy tin tưởng (c.15).

 

III. Ý NGHĨA

1. Lời cầu cứu thứ nhất (c. 1-5)

Tv 16 khởi đi với lời kêu cứu đặt cơ sở trên công lý. Ông tin Thiên Chúa là vị thẩm phán tối cao và công bình. Thế nên, ông xin Chúa đứng ra minh xét cho tình trạng của ông (Tv 16,2):

2 Con xin được Thánh Nhan soi xét
vì mắt Ngài thấy rõ điều chính trực.

Trước Thiên Chúa, vịnh gia Đa-vít biện hộ cho chính mình. Ông xác nhận mình là người vô tội. Ông khẳng định rằng không có điều gì gian dối trong tư tưởng, lời nói và việc làm của ông (Tv 16,3):

3 Chúa có xét lòng con, thăm con giữa đêm trường,
có thử con bằng lửa, cũng chẳng thấy điều gian.

Vịnh gia chắc chắn vào lời biện hộ của mình. Ông tuân giữ mọi điều Chúa dạy. Bởi vậy, lời khẩn cầu của ông phải được minh xét.

2. Lời cầu cứu thứ hai (c. 6-12)

Trong lời cầu cứu thứ hai, vịnh gia Đa-vít trình bày nhu cầu của mình với Chúa. Động cơ thúc đẩy vịnh gia dùng lời cầu nguyện để đối phó với một cơn khủng hoảng là Chúa sẽ trả lời. Ông chắc chắn rằng Chúa sẽ nhận lời ông nài van: “Con kêu lên Ngài, lạy Thiên Chúa, vì Ngài đáp lời con” (c. 6). Chúa đáp lời ông không phải vì ông sống công chính, những còn thể hiện lòng thương xót và thành tín của Chúa (Tv 16,7):

7 Xin biểu lộ tình thương diệu kỳ của Chúa,
Ngài cứu ai trú ẩn dưới cánh tay Ngài
khỏi quân thù xông đánh.

Tình thương Thiên Chúa không hề thay đổi. Người tỏ lòng thành tín cho những ai tin tưởng tìm nương ẩn bên Người. Đa-vít thấu hiểu điều này, nên ông tiếp tục nài xin Chúa (Tv 16, 8-9):

8 Xin giữ gìn con như thể con ngươi,
dưới bóng Ngài, xin thương che chở,
9 cho khỏi tay lũ ác nhân hãm hại,
thoát bọn tử thù tứ phía bủa vây.

3. Lời cầu cứu thứ ba (c. 13-15)

Trong lời cầu nguyện cuối cùng, vịnh gia Đa-vít xin Chúa đứng lên hành động. Ông xin Chúa quật ngã quân thù, thẳng tay khai trừ bọn ác nhân khỏi thế giới loài người. Ông không chỉ xin Chúa trừng phạt những kẻ thù trước mắt mà cả con cháu của chúng mai sau. Trái ngược với số phận của những kẻ thù địch, số phận của người công chính, số phận của vịnh gia, sẽ được no đầy hạnh phúc, như lời công bố đầy tin tưởng của vịnh gia (Tv 16,15):

15 Về phần con, sống công minh chính trực,
con sẽ được trông thấy mặt Ngài,
khi thức giấc, được thỏa tình chiêm ngưỡng Thánh Nhan.

IV. TRUYỀN THỐNG CẦU NGUYỆN

Truyền thống của người Do-thái cho thấy Thiên Chúa như một vị quan án. Người xét xử công mình chính trực. Nhưng đồng thời, Người cũng là Đấng giàu tình thương và lòng thành tín. Người lắng nghe lời cầu xin của những kẻ khốn cùng và cho họ được diện kiến Thánh Nhan, còn ác nhân bị đuổi đi cho khuất mắt Người.

Truyền thống Ki-tô giáo nhìn nhận rằng tình thương và lòng thành tín của Thiên Chúa đối với nhân loại khốn cùng được tỏ hiện nơi Đức Giê-su, Con Thiên Chúa làm người để cứu vớt con người khỏi sự vây hãm của tội lỗi và sự chết.

Theo gương Vịnh gia và đáp lại lời mời gọi của Đức Ki-tô Phục Sinh, mỗi người Ki-tô hữu chúng ta hãy tín thác và tìm nương ẩn nơi Chúa trong lúc gặp gian nan thử thách. Cầu nguyện là phương thế tốt nhất diễn tả sự tin tưởng phó thác của chúng ta vào tình thương diệu kỳ của Chúa. Qua đời sống cầu nguyện hằng ngày, mỗi người Ki-tô hữu trở nên người bạn tâm giao và kết hợp thân mật với Chúa và đạt tới niềm vui vĩnh cửu do Người ban tặng. Quả thật, niềm vui vĩ đại nhất của con người là “khi thức giấc, được thoả tình chiêm ngưỡng Thánh Nhan” (Tv 16,15).

Lm. An-tôn Trần Văn Phú

Lên đầu trang