Chúa Nhật XIV Thường Niên Năm C | Giải nghĩa và hát mẫu Thánh vịnh 65

I. Bối Cảnh

Đây là một ca khúc tạ ơn vừa có tính cộng đoàn vừa có tính cá nhân. Thánh vịnh (Tv) 65 được hình thành từ bối cảnh của một lễ hội hành hương về Đền thờ Giê-ru-sa-lem, mang tính quốc gia. Điều này cho thấy, tâm tình tạ ơn của toàn thể cộng đoàn, và đồng thời cho chúng ta thấy kinh nghiệm cá nhân của Vịnh gia về quyền năng cứu độ của Thiên Chúa được tỏ bày, được nhìn rộng ra trong bối cảnh lịch sử ơn cứu độ của dân tộc. Tv 65 nhắc nhớ chúng ta về những biến cố quan trọng đối với Ít-ra-en: Xuất hành, vượt sông Giođan, chiếm đất Ca-na-an.

II. Bố Cục

Tv 65 gồm 20 câu, có thể được chia thành hai phần chính:

– Phần I: Bài ca tạ ơn cộng đoàn (c. 1-12): Toàn thể cõi địa cầu được mời gọi tán tụng Thiên Chúa.

– Phần II: Bài ca tạ ơn cá nhân (c. 13-20): Từ những cảm nghiệm cá nhân, Vịnh gia cất lời tán tụng Thiên Chúa.

III. Ý Nghĩa

1. Phần I – Bài ca tạ ơn cộng đoàn (c. 1-12)

Một cộng đoàn được mời gọi tán tụng Thiên Chúa vì hồng ân cứu độ. Hòa mình vào đoàn hành hương tiến về Đền thờ, Vịnh gia lên tiếng mời gọi toàn thể vũ trụ và đoàn người hành hương cùng cất tiếng tung hô, đàn hát và dâng lời tán tụng Thiên Chúa, Đấng Toàn Năng, Siêu Việt, Tạo Hoá, Thần trên các thần. Thiên Chúa là Đấng toàn cõi đất phải phục bái.

Sự khởi đầu của cuộc hành hương về Đền thờ mang ý nghĩa quang lâm. Từ ngữ mang tính vương quyền: Tung hô, vinh quang, thần lực, uy hùng, khúm núm, quỳ lạy.[1]

Không chỉ Ít-ra-en được mời gọi tán tụng Thiên Chúa vì những kỳ công Người đã thực hiện cho Dân Người, mà tất cả các dân các nước được mời gọi tung hô Thiên Chúa như vị vua của hoàn vũ, cách đặc biệt, vị vua của lịch sử.

Vịnh gia mời gọi tất cả khách hành hương “hãy đến và hãy xem” bằng chính con mắt của họ; hãy tự mình trải nghiệm các công trình đáng kính sợ Thiên Chúa đã thực hiện trước mặt phàm nhân. Đó là việc giải thoát dân Do-thái khỏi Ai-cập, vượt qua sông Giođan và tiến vào miền đất Ca-na-an. Những biến cố trọng đại này được nhắc nhớ cho mỗi người Do-thái. Đặc biệt vào các dịp hành hương, mỗi người dân Do-thái hiện tại hoá những khoảnh khắc vĩ đại mà Thiên Chúa đã thực hiện. Như thế, như lời sách Đệ Nhị luật khẳng định: “Đức Chúa đã lập giao ước này không phải với cha ông chúng ta, mà là với chúng ta, những người hôm nay đang ở đây, tất cả còn đang sống” (Đnl 5,3). Kết thúc phần I, Vịnh gia mời gọi cộng đoàn tán tụng Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh, lúc thành công cũng như khi thất bại, lúc vui mừng cũng như khi gặp gian nan thử thách.

2. Phần II – Bài ca tạ ơn cá nhân (c. 13-20)

Phần II của Tv 65 là bài ca tạ ơn mang tính cá nhân của Vịnh gia. Vịnh gia, giống như một tư tế, tiến vào nhà Chúa, dâng lễ toàn thiêu để chu toàn lời khấn hứa. Trong khi đoàn hành hương tiến đến cửa Đền thờ, Vịnh gia bước vào tiền đường nhà Chúa. Ông dâng lên Chúa bò, chiên, dê béo tốt.

Vịnh gia nhận ra công trình của Thiên Chúa ngay trong những biến cố đau thương của dân tộc. Cho dù đó là thời kỳ nô lệ Ai-cập, Xuất hành, Chiếm đất hay Lưu đày, Thiên Chúa vẫn bảo toàn, giữ gìn bản thân cũng như dân tộc mình. Thiên Chúa luôn lắng nghe lời khẩn cầu tha thiết và chân thành.

Tv 65 kết thúc với lời chúc tụng. Vịnh gia chúc tụng Thiên Chúa, Đấng không bao giờ khước từ lời kêu cầu của ông. Người không bao giờ từ chối tình yêu chung thuỷ của Người đối với ông.

IV. Truyền Thống Cầu Nguyện

Trong truyền thống của Giáo hội, Tv 65 được nối kết với biến cố Phục sinh của Đức Kitô, Đấng đã vượt qua cái chết để bước vào thành thánh Giê-ru-sa-lem trên trời. Tương tự như dân Ít-ra-en trong sa mạc, Đức Kitô đã chịu thử thách, đã vượt qua sự chết đến sự sống đời đời. Ngài mang trong mình toàn bộ nhân loại, một nhân loại cần ơn cứu rỗi. Như một hành động tạ ơn và đền tội, Đức Kitô đã hiến dâng toàn bộ con người của Ngài. Không ai có thể dâng của lễ toàn thiêu lên Chúa Cha một cách trọn vẹn hơn chính Đức Kitô.[2]

Hôm nay, khi hoà tấu Tv 65, mỗi người chúng ta được mời gọi nhìn lại thái độ sống đức tin của chúng ta. Chúng ta có tin rằng, Thiên Chúa vẫn tiếp tục thực hiện những điều kỳ diệu giữa chúng ta hay không? Chúng ta có can đảm bỏ lại những đam mê trần thế để tìm kiếm Thiên Chúa hay không? Chúng ta có dám sống một cuộc đời như của lễ đẹp lòng Chúa hay không?


[1] Lm. Bernard Phạm Hữu Quang & Lm. Phaolô Nguyễn Văn Bình, Sách Thánh Vịnh, Nxb. Tôn Giáo, 2018, tr. 304.

[2] Lm. Bernard Phạm Hữu Quang & Lm. Phaolô Nguyễn Văn Bình, Sách Thánh Vịnh, Nxb. Tôn Giáo, 2018, tr. 317.

Lên đầu trang